Năm 2019 đổi mới sáng tạo trở thành động lực tăng trưởng mới

     Các ứng dụng khoa học và công nghệ giúp doanh nghiệp tăng năng suất lao động, năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Trả lời VnExpress, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Khoa học và Công nghệ Chu Ngọc Anh cho biết, năm 2018 hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo để lại nhiều dấu ấn. Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam thời gian qua liên tục tăng vượt bậc, dẫn đầu nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp (năm 2017 tăng 12 bậc, năm 2018 tăng tiếp 2 bậc, xếp thứ 45/126 quốc gia, trong đó, nhóm chỉ số về tri thức – công nghệ của Việt Nam có thứ hạng rất cao, xếp thứ 28).

Bộ trưởng Chu Ngọc Anh. Ảnh: Loan Lê

     – Nếu điểm lại kết quả hoạt động năm qua, Bộ trưởng sẽ nhắc tới điều gì?

     – Có thể thấy năm 2018 khoa học và công nghệ có nhiều chuyển biến trong cơ chế, chính sách. Các thủ tục hành chính được tháo gỡ, tạo điều kiện thuận lợi, khuyến khích các nhà khoa học, tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp tham gia nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, ứng dụng và đổi mới công nghệ, đưa doanh nghiệp trở thành trung tâm của hệ thống sáng tạo quốc gia. Môi trường đầu tư kinh doanh, thúc đẩy hoạt động khởi nghiệp sáng tạo và sự phát triển của hệ thống sáng tạo quốc gia cũng được cải thiện. Các hướng công nghệ ưu tiên phát triển nhằm tận dụng cơ hội của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã được đề xuất.

     Thực tế khoa học và công nghệ đã có nhiều đóng góp trong phát triển kinh tế xã hội (cả trong nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ y tế, ngân hàng…).

     Đáng nói, các doanh nghiệp, tập đoàn lớn quan tâm nhiều hơn đến đầu tư cho khoa học, công nghệ như VinGroup, Viettel, VNPT… Tỷ trọng đầu tư cho khoa học công nghệ giữa nhà nước và doanh nghiệp không còn ở mức 7:3 như đầu thập kỷ này mà đổi lại là mức 5,2:4,8.

     – Bộ trưởng hài lòng với kết quả?

     – Tôi nghĩ rằng trong điều kiện quy mô và tiềm lực của nền kinh tế còn khiêm tốn, xét về trình độ và môi trường cho phát triển khoa học và công nghệ, Việt Nam đã có những tiến bộ vượt trội so với các quốc gia ở trình độ phát triển tương đồng.

     Đây là kết quả của những nỗ lực không mệt mỏi và rất đáng biểu dương của các thế hệ cán bộ khoa học và quản lý khoa học, công nghệ gắn nghiên cứu với thực tiễn và nhu cầu thị trường.
Chỉ số đổi mới sáng tạo của Việt Nam những năm gần đây liên tục tăng vượt bậc, dẫn đầu nhóm quốc gia có thu nhập trung bình thấp (năm 2017 tăng 12 bậc, năm 2018 tăng tiếp 2 bậc, xếp thứ 45/126 quốc gia, trong đó, nhóm chỉ số về tri thức – công nghệ của Việt Nam có thứ hạng rất cao, xếp thứ 28). Các lĩnh vực khoa học tự nhiên Việt Nam có thế mạnh như Toán học, Vật lý, Hóa học luôn đạt vị trí tốp đầu ASEAN.

     Tuy nhiên phía trước vẫn còn nhiều việc phải làm bởi năm 2019 là năm đột phá quyết liệt để hiện thực hóa các chỉ đạo của Đảng theo tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII và các Nghị quyết Trung ương khóa XII, đẩy nhanh tiến độ thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội để hoàn thành kế hoạch giai đoạn 2016-2020 và bước sang một thập niên mới.
Các mục tiêu quan trọng được đặt ra là củng cố nền tảng kinh tế vĩ mô gắn với thúc đẩy tăng trưởng hợp lý, cải thiện chất lượng tăng trưởng thông qua thực hiện đột phá chiến lược, tái cơ cấu nền kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học, công nghệ và tận dụng hiệu quả cuộc Cách mạng 4.0. Trong đó, khoa học và công nghệ được xem là đòn bẩy của công cuộc tái cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, tăng năng suất lao động, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế; đổi mới sáng tạo trở thành một trong các động lực tăng trưởng mới.

     – Để đạt mục tiêu, ngành khoa học và công nghệ sẽ làm gì thưa Bộ trưởng?

     – Trong bối cảnh và tình hình phát triển chung, chính sách phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải kịp thời đổi mới, chuyển hướng để thích ứng và đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn mới.

     Có 6 điểm cần chú trọng hơn nữa trong năm 2019:

     Thứ nhất, xây dựng phương án cơ cấu lại các chương trình khoa học và công nghệ quốc gia theo hướng lấy doanh nghiệp thực sự là trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia. Chuyển dịch trọng tâm chính sách khoa học và công nghệ, từ chỗ đầu tư cho hoạt động nghiên cứu – triển khai (R&D) là chủ yếu sang chú trọng đầu tư cho thương mại hóa kết quả R&D.

     Vai trò đầu tư của doanh nghiệp và xã hội trong chuỗi hoạt động nghiên cứu và đổi mới sáng tạo vô cùng quan trọng. Nhà nước có thể đầu tư cơ bản đến cơ bản định hướng ứng dụng và một phần của hoạt động nghiên cứu ứng dụng. Tuy nhiên, để đưa các kết quả nghiên cứu từ phòng thí nghiệm ra thị trường, ứng dụng được trong hoạt động sản xuất, kinh doanh để tạo thành sản phẩm, dịch vụ mới và giá trị gia tăng cho xã hội, cần sự đầu tư có trách nhiệm của các lực lượng xã hội, trong đó doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng nhất. Phát huy vai trò của khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo trong quá trình tái cơ cấu, nâng cao chất lượng tăng trưởng của các ngành, lĩnh vực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững.

     Thứ hai: Phát triển hệ thống sáng tạo quốc gia lấy doanh nghiệp làm trung tâm và trường đại học là chủ thể nghiên cứu mạnh. Nâng cao tiềm lực và trình độ khoa học và công nghệ trong nước để có thể triển khai các hướng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ liên ngành và xuyên ngành ở trình độ quốc tế về công nghệ thông tin, vật lý, sinh học, trí tuệ nhân tạo. Phát triển và khai thác tài sản trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Thực hiện đồng bộ các giải pháp nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, hàng hóa và tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia để phục vụ hiệu quả hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

     Thứ ba: Tiếp tục khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mạnh cho hoạt động khoa học và công nghệ, đổi mới sáng tạo. Phát huy Quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp, thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ tại các doanh nghiệp, tập đoàn, tổng công ty. Phát triển thị trường khoa học công nghệ gắn với hoạt động đổi mới sáng tạo. Đổi mới cơ chế hỗ trợ hoạt động nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp; sử dụng ngân sách nhà nước như nguồn vốn mồi nhằm thu hút sự tham gia đầu tư của doanh nghiệp cho hoạt động khoa học và công nghệ. Triển khai thực hiện các giải pháp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thủ tục, hồ sơ đăng ký doanh nghiệp khoa học và công nghệ. Tập trung nâng cao năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp; dành kinh phí thỏa đáng cho nhập khẩu và làm chủ công nghệ tiên tiến của thế giới.

     Thứ tư: Chủ động triển khai các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể tăng cường năng lực tiếp cận, tiếp thu và làm chủ các công nghệ cốt lõi của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Triển khai hiệu quả Chương trình KH&CN trọng điểm cấp quốc gia về Cách mạng công nghiệp lần thứ tư giai đoạn đến năm 2025. Hình thành một số phòng thử nghiệm công nghệ (testlab), phát triển các công nghệ nền tảng của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo để tạo ra các sản phẩm quốc gia có lợi thế; khuyến khích các doanh nghiệp khởi nghiệp trên nền tảng công nghệ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Triển khai toàn diện Đề án “Phát triển Hệ tri thức Việt số hóa” để thiết lập hạ tầng nền tảng, dữ liệu lớn, chia sẻ dữ liệu để khai thác, làm giàu hệ tri thức của người Việt, phục vụ chuyển đổi số, tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Trung tâm R&D của doanh nghiệp dược tại Đà Nẵng. Ảnh: Loan Lê.

     Thứ năm: Tiếp tục phát triển mạnh hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo quốc gia kết nối với các hệ sinh thái khu vực và toàn cầu. Khuyến khích các quỹ đầu tư mạo hiểm, nhà đầu tư thiên thần, doanh nghiệp lớn đầu tư cho khởi nghiệp. Nhà nước không trực tiếp đầu tư mạo hiểm 100% cho khởi nghiệp, chỉ nên cung cấp vốn mồi trong giai đoạn tiền khởi nghiệp, vốn tăng tốc trong giai đoạn khởi nghiệp và cả hai giai đoạn đều cần hợp tác công – tư.

     Quan tâm phát triển hạ tầng, dịch vụ hỗ trợ và thị trường ban đầu cho khởi nghiệp; kết nối với các viện nghiên cứu, trường đại học và các doanh nghiệp lớn để doanh nghiệp khởi nghiệp có thể tham gia sân chơi chung và tiếp cận các chuỗi giá trị toàn cầu. Khuyến khích các trường đại học, đặc biệt là các trường khối kỹ thuật và công nghệ, dành không gian thích đáng cho hoạt động ươm tạo công nghệ, xưởng thiết kế chế tạo của sinh viên; hỗ trợ hoạt động khởi nghiệp sáng tạo của sinh viên năm cuối và cựu sinh viên thông qua các không gian sáng tạo chung hoặc các chương trình, dự án hỗ trợ khởi nghiệp.

     Thứ sáu: Về hợp tác và hội nhập quốc tế, thúc đẩy hợp tác nghiên cứu chung để tranh thủ nguồn lực và tri thức của các quốc gia tiên tiến, từng bước nâng tầm năng lực và trình độ nghiên cứu trong nước để có thể tham gia hợp tác đối tác bình đẳng và cùng có lợi trong dài hạn.

     Chủ động nghiên cứu, cập nhật các xu hướng phát triển của thế giới, đồng thời thúc đẩy hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế và các tập đoàn đa quốc gia trong trao đổi, chia sẻ các mô hình, kinh nghiệm, bài học thực tiễn về khai thác cơ hội và vượt qua thách thức của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư để vận dụng phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam; thu hút sự tham gia đóng góp của cộng đồng khoa học và công nghệ người Việt Nam ở nước ngoài.

(Theo truyenthongkhoahoc.vn)

Quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước

Quyết định Số 19/2019/QĐ-UBND: Ban hành Quy định tuyển chọn, giao trực tiếp tổ chức và cá nhân thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước tại tỉnh Phú Yên.

Quyết định Số 51/2018/QĐ-UBND: Sửa đổi, bổ sung và bãi bỏ một số điều của Quy định trình tự, thủ tục xác định nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước ban hành kèm theo Quyết định số 62/2015/QĐ-UBND ngày 22/12/2015 của UBND tỉnh.

Phụ lục các biểu mẫu: (Ban hành kèm theo Quyết định số 51 /2018/QĐ-UBND ngày 31 tháng 11 năm 2018 của UBND tỉnh)

1. Phiếu đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh:

2. Phiếu nhận xét và đánh giá đề xuất đặt hàng:

3. Mẫu C0-TCTT: Kết quả tra cứu thông tin về các Đề tài, Dự án sản xuất thử nghiệm có liên quan đến đề xuất đặt hàng đã và đang thực hiện.

4. Mẫu C1-BBKP: Kiểm phiếu đánh giá đề xuất đặt hàng nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh.

5. Mẫu C2-BBHĐ: Biên bản họp của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp tỉnh;

6. Mẫu C3-KQĐG: Kết quả đánh giá đề xuất đặt hàng của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ.

7. Mẫu C4-TH: Tổng hợp kiến nghị của hội đồng tư vấn xác định nhiệm vụ khoa học và công nghệ.